Dự án đầu tư 001

SƠ LƯỢC ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ  của dự án
Tại huyện sầm tơ tỉnh hủa phăn


I. Vị trí địa lý, toạ độ, diện tích cấp phép
Diện tích được cấp phép khảo sát thuộc địa phận hành chính huyện Sầm Tơ, tỉnh Hủa Phần, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào nằm cách Đồn biên phòng cửa khẩu xã Thông Thụ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An theo đường dân sinh về phía tây bắc khoảng 20 km.
Diện tích được cấp phép khảo sát 500 km2 được khống chế bởi hệ toạ độ Gauss – kruger GK Zone 18 (Pulkovo 1942) như sau:
Số TT    Toạ độ
    X (m)    Y(m)
A    18 440 500    2 209 700
B    18 465 200    2 209 700
C    18 480 000     2 199 000
D    18 471 000     2 186 000
E    18 464 500    2 186 000
F    18 464 500    2 198 500
G    18 440 500    2 198 500

II. Đặc điểm địa lý tự nhiên và kinh tế nhân văn
- Địa hình: khu Hủa Phần thuộc khu vực đồi núi cao từ 573 đến 2008m, đỉnh cao nhất ở phía nam Bản Vatki cao 1961 đến 2008m, địa hình phân cắt mạnh sườn núi dốc đá gốc lộ tạo thành các vách cao dựng đứng, sườn thoải đá gốc phong hoá mạnh, phần lớn diện tích bị phủ (lớp phủ dày 1÷2m), do đó sẽ ảnh hưởng đến lộ trình quan sát địa chất.
- Sông suối:
+ Sông: trong diện tích khảo sát có 2 con sông lớn:
Sông Nậm Sam: chảy từ thị trấn Sầm Nưa chảy qua Khốc Khan về Bản Tạo. Lòng sông rộng, thoải đôi chỗ gặp thác ghềnh, vách hai bên bờ dựng đứng. Lưu lượng nước phụ thuộc theo mùa, mùa mưa nước nhiều, mùa khô nước ít.
Sông Nậm Dit: chảy từ bản Ta Cai qua Xốp Huôn, Xốp Xan đến Bản Tạo gặp và hợp cùng sông Nậm Sam chảy về phía đông qua dãy núi Trường Sơn sang Việt nam chảy vào Sông Chu. Lòng sông rộng thoải đôi chỗ gặp thác ghềnh. Lưu lượng nước thụ thuộc theo mùa, mùa mưa nước nhiều, mùa khô nước ít. Mùa mưa nhân dân đi lại theo đường sông bằng thuyền, ghe.
Tại hai con sông này là nguồn cung cấp thuỷ sản cho nhân dân trong vùng.
+ Suối: trong vùng phát triển mạng lưới suối dày đặc điều bắt nguồn từ phía tây, tây nam khu vực khảo sát chảy ra sông Nậm Dit và sông Nậm Sam. Các suối ở đây đều dốc, phân cát mạnh, lộ đá gốc tốt nên rất thuận lợi cho việc tìm kiếm, truy tìm thân quặng gốc.
- Khí hậu: hàng năm có 2 mùa rõ rệt
 Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, thời tiết nóng, nhiệt độ không khí trung bình 32oC
Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời tiết khô hanh, lạnh. Nhiệt độ trung bình 18o.
- Thảm thực vật: trong diện tích khảo sát thảm thực vật phát triển khá dày chủ yếu là rừng nguyên sinh và ít diện tích rừng tái sinh chủ yếu là gỗ tạp có thể khai thác chống chèn hầm lò trong khai thác khoáng sản sau này
- Hệ thống giao thông: Giao thông trong khu vực kém phát triển, hiện nay chưa có đường nhựa, đường đá cấp phối từ huyện lỵ đến các làng bản, việc giao thông đi lại bằng đường đất, đường dân sinh, đường thuỷ bằng xuồng ghe. Do đó rất khó khăn đi lại vận chuyển các phương tiện phục vụ thăm dò khai thác khoáng sản trong mùa mưa lũ.
Dân cư: dân cư trong vùng chủ yếu là người Lào và người H’ Mông, sống tập trung thành các làng bản nhỏ, một ít sống rải rác trong các nương rẫy, khe, hẻm. Đời sống dân trí thấp, phong tục lạc hậu, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp. Thông thương mua bán trao đổi hàng hoá tại chợ huyện Sầm Tơ. Hiện nay trong khu vực chưa có điện lưới Quốc gia, một số hộ dân sử dụng thuỷ điện nhỏ. Trong vùng chưa được phủ sóng điện thoại nên việc thông tin liên lạc rất khó khăn.